Sản phẩm
Đối tác khách hàng
Cập nhật: 07/03/2011
Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ thiếu hụt nguồn nước
Do điều kiên tự nhiên, mạng lưới sông suối của Việt Nam được đánh giá khá dày, nhưng phân bổ không đồng đều; khu vực miền Trung và các tỉnh phía Bắc hầu hết các sông có độ dốc lớn nên khả năng thoát nước nhanh, khả năng giữ nước kém… , riêng đồng bằng sông Cửu Long có mạng lưới sông, kênh rạch dầy đặc lượng nước khá phong phú, tuy nhiên do có độ dốc thấp, về mùa khô thường bị nước mặn xâm lấn vào sâu (hàng trăm km).

Những yếu tố trên dẫn tới sự thiếu hụt nước vào mùa khô, nên vấn đề sử dụng nước thường xuyên ở tình trạng đối mặt với khả năng thiếu nước.
Do phương pháp và kỹ thuật khai thác, sử dụng nước ở mức lạc hậu, không tiết kiệm tài nguyên nước, Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ thiếu hụt nguồn nước. Nguyên nhân bắt nguồn từ việc khai thác và sử dụng nguồn nước còn thiếu cải tiến khoa học và nhiều bất cập. Hệ thống các công trình, kênh tưới, tiêu thuỷ lợi quá lạc hậu, không đồng bộ, công tác quản lý khái thác sử dụng nước chưa hiệu quả; việc quản lý và khai thác nước ngầm tràn lan chưa đi vào chiều sâu… dẫn tới khả năng tiếm tàng thiếu nước dùng là rất lớn.
Theo ước tính của Cục Tài nguyên nước – Bộ Tài nguyên và Môi trường, tổng lượng nước sông ngòi trên lãnh thổ nước ta khoảng 830-840 tỷ m3/năm. Hơn 60% nguồn nước tập trung ở lưu vực sông Cửu Long, toàn bộ phần lãnh thổ còn lại chiếm tới 80% dân số cả nước và trên 90% hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, song lại chỉ có 40% lượng nước. Lưu vực sông Cửu Long có tới 95% lượng nước phát sinh từ nước ngoài, lưu vực sông Hồng có khoảng 40% lượng nước chảy vào từ Trung Quốc. Sự phụ thuộc đó cũng khiến nguồn nước không bền vững.

Theo tính toán, lượng nước mặt bình quân đầu người hiện nay trong tổng nguồn nước các con sông của Việt Nam chỉ khoảng 3.840m3/người/năm; nếu tính cả nguồn nước từ các quốc gia láng giềng chảy vào thì trung bình đạt 10.240m3/người/năm. Với tốc độ phát triển dân số như hiện nay đến năm 2025 lượng nước mặt tính bình quân đầu người của các con sông Việt Nam chỉ còn khoảng 2.830m3/người/năm, tính cả lượng nước từ bên ngoài chảy vào thì đạt 7.660m3/người/năm.

Tuy nhiên, nước từ các quốc gia láng giềng chảy vào phân bố đồng đều, không ổn định và nếu căn cứ theo chỉ tiêu đánh giá của Hội Tài nguyên nước quốc tế (IWRA) thì quốc gia nào có lượng nước bình quân đầu người dưới 4.000m3/người/năm (tính chung) là quốc gia thiếu nước thì Việt Nam cũng đang nằm trong tình trạng thiếu nước nghiêm trọng, đáng báo động. theo tính toán, tổng nhu cầu dùng nước ở Việt Nam năm 2010 vào khoảng 123 tỷ m3, trong đó nông nghiệp chiếm 92 tỷ m3, công nghiệp là 17 tỷ m3, sinh hoạt và dịch vụ là 14 tỷ m3. Đến năm 2040, tổng lượng nước cần dùng sẽ tăng lên với số lượng dự kiến là 260 tỷ m3, khi đó tỷ trọng của các ngành sử dụng nước cũng có những thay đổi đáng kể: nông nghiệp và dịch vụ sẽ chiếm lượng lớn khoảng 134 tỷ m3, công nghiệp sẽ là 40 tỷ m3… Tương lai nước ta cần một lượng nước lớn hơn để phục vụ nhu cầu dân sinh và phát triển của xã hội, tuy nhiên nguồn nước lại có giới hạn, mặt khác do phát triển nạn triệt phá rừng phòng hộ đầu nguồn làm tăng khả năng thoát nước trong mùa mưa, giảm lượng nước trong mùa khô dẫn tới mâu thuẫn giữa nguồn cung và nhu cầu dùng nước càng trở nên bức xúc hơn.

Ngoài ra, Việt Nam còn nằm trong khu vực chịu tác động lớn của biến đổi khí hậu toàn cầu, trong đó tài nguyên nước có nguy cơ bị tác động mạnh. Các kết quả nghiên cứu gần đây đã dự báo tổng lượng nước mặt năm 2005 chỉ bằng khoảng 96%, năm 2070 chỉ khoảng 91% và đến năm 2100 chỉ còn lại 86% so với hiện nay.

Các giải pháp khắc phục

Để đối phó với tình trạng thiếu nước và thực hiện tiết kiệm nước cần lưu ý một số ý sau:

+ Đẩy mạnh công tác tính toán và quy hoạch bảo vệ và khai thác tài nguyên nước có hiệu quả.

+ Hoàn thiện các chính sách và cơ chế quản lý và khai thác sử dụng nguồn nước (cả nước mặt và nước ngầm).

+ Cần mạnh tay và xử lý nghiêm việc người dân tự ý khai thác nước ngầm ở những vùng hạn hán như Tây Nguyên, trung du Bắc bộ…

+ Tính toán phân bổ hợp lý cơ cấu cây trồng từng vùng phù hợp với khả năng cung cấp của nguồn nước (giảm thiểu diện tích trồng cây tốn nhiều nước ở vùng hạn, nghiên cứu chọn giống cây chịu hạn, có hiệu quả kinh tế).

+ Sửa chữa và cải tạo diện tích hồ chứa nước và hệ thống thuỷ lợi, áp dụng các giải pháp tưới tiêu hợp lý, tiết kiệm nước.

+ Đẩy mạnh công tác xã hội hoá trong sử dụng và bảo vệ nghiêm ngặt nguồn nước, không để các nguồn nước bị ô nhiễm nhất là nguồn nước ngầm, nhằm giữ gìn sự trong sạch của nguồn nước.

Nâng cao vai trò trách nhiệm của cơ quan quản lý.

Mới đây Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam được Thủ tướng Chính phủ giao chủ trì soạn thảo Dự án Luật tài nguyên nước sửa đổi, nhằm hoàn thiện khung pháp lý về tài nguyên nước phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững tài nguyên nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Đồng thời thúc đẩy quản lý tổng hợp và thống nhất việc sử dụng tài nguyên nước một cách tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ tài nguyên nước, phòng chống và giảm thiểu tác hại do nước gây ra.

Theo Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Phạm Khôi Nguyên, Luật Tài nguyên nước sửa đổi sẽ khắc phục những bất cập phát sinh của luật hiện hành và xây dựng một khung luật pháp hiệu lực rõ ràng, trong đó tài nguyên nước được tất cả các ngành quản lý, bảo vệ và sử dụng. Để góp phần thiết thực vào việc ngăn chặn thảm hoạ thiếu nước, hơn 80 triệu người dân Việt Nam, mỗi người cần có ý thức trong việc bảo vệ nguồn nước, các tổ chức, các nhà khoa học cần nghiên cứu và có kế hoạch cụ thể để quản lý, khai thác, sử dụng nguồn nước tiết kiệm, hiệu quả./

Video clip
Máy nước nóng JIKO
1
2
Sản phẩm tiêu biểu
Giá : Liên hệ
Giá : Liên hệ
Giá : Liên hệ
Giá : Liên hệ
Mã SP : hs:2681
Giá : Liên hệ
Giá : Liên hệ
Giá : Liên hệ
Giá : Liên hệ
Giá : Liên hệ
Giá : Liên hệ
Giá : Liên hệ
Thông tin cần biết
Hotline:
0241.3855670 - 02412.210.669
Thống kê
Số người đang online: 10
Số lượt truy cập: 57